Đường VềWiki
Tìm
Lịch sử bản đồ & dẫn đường

Hồng Đức bản đồ và bản đồ cổ Việt Nam: vẽ thế nào, còn lại gì

Năm 1469 Lê Thánh Tông ra lệnh các thừa tuyên vẽ bản đồ, năm 1490 hoàn thành bản đồ cả nước. Tập Hồng Đức bản đồ còn lại là các bản chép về sau, gộp nhiều thời kỳ.

Hồng Đức bản đồ và bản đồ cổ Việt Nam: vẽ thế nào, còn lại gì

"Hồng Đức bản đồ" là tên gọi một tập bản đồ cổ Việt Nam gắn với thời vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng Đức, 1470–1497). Theo "Đại Việt sử ký toàn thư", năm 1469 nhà vua ra lệnh các thừa tuyên vẽ bản đồ núi sông, đường sá, và năm 1490 bản đồ cả nước được hoàn thành. Những bản đồ còn lưu đến nay là các bản chép, bản tổng hợp về sau, gộp nhiều tập bản đồ thuộc các thời kỳ khác nhau, nên khi đọc cần phân biệt phần nào gắn với thế kỷ 15, phần nào muộn hơn.

Lệnh vẽ bản đồ của Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông là vị vua nổi tiếng với việc củng cố bộ máy hành chính. Năm 1469, cùng với việc định lại đơn vị hành chính thành 12 thừa tuyên (sau thêm Quảng Nam là 13), nhà vua ra lệnh các địa phương vẽ bản đồ, ghi rõ núi sông, hình thế, đường đi, di tích, gửi về triều đình. Sử cũ chép rằng năm 1490, bản đồ của các thừa tuyên được tập hợp, định lại thành bản đồ chung của cả nước.

Đây là một mốc quan trọng: lần đầu tiên trong sử Việt có ghi chép rõ ràng về một chương trình nhà nước thu thập và tổng hợp bản đồ toàn quốc. Mục đích chủ yếu là quản lý hành chính, thu thuế, quân sự, giao thông và khẳng định cương vực.

Những gì còn lại đến nay

Bản gốc thế kỷ 15 không còn. Những tập bản đồ mang tên "Hồng Đức bản đồ" hiện lưu giữ là các bản chép tay về sau, có thể đã được sửa đổi, bổ sung qua nhiều đời. Trong đó thường gộp:

  • Bản đồ toàn quốc và bản đồ các thừa tuyên (xứ) theo cách vẽ truyền thống.
  • Bản đồ kinh thành Thăng Long.
  • Bản đồ đường đi, như "Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư" — bộ bản đồ đường đi từ kinh thành ra bốn phía, thường được gắn với Đỗ Bá (Đỗ Bá Công Đạo) cuối thế kỷ 17.
  • Các bản đồ khác thời Lê trung hưng, có khi cả thời Nguyễn.

Năm 1962, Viện Khảo cổ ở Sài Gòn xuất bản một tập "Hồng Đức bản đồ" có phiên âm, dịch nghĩa, giúp giới nghiên cứu và công chúng tiếp cận. Các bản chép tay khác được lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và một số thư viện, cơ quan lưu trữ trong và ngoài nước.

Bản đồ cổ Việt Nam vẽ như thế nào

Bản đồ cổ Việt Nam không giống bản đồ hiện đại. Đọc chúng cần hiểu vài đặc điểm:

Đặc điểmÝ nghĩa
Không có tỉ lệ thống nhấtKhoảng cách và kích thước thể hiện tầm quan trọng hơn là độ lớn thật
Núi vẽ bằng hình chóp, nhìn nghiêngKhông phải đường đồng mức; núi lớn, núi thiêng vẽ nổi bật
Sông, biển vẽ bằng sóng nướcMạng sông là xương sống của bản đồ, vì đó là đường giao thông chính
Chữ Hán ghi tên địa danhMột số địa danh Nôm hoặc đã đổi tên, cần đối chiếu
Hướng không cố địnhCó bản đặt phía tây ở trên (núi ở trên, biển ở dưới), có bản theo hướng đi
Thành, phủ, huyện, đồn vẽ bằng ký hiệuThể hiện hệ thống hành chính và phòng thủ

Nhiều bản đồ cổ của Việt Nam đặt núi ở trên và biển ở dưới — tức với phần lớn lãnh thổ, phía tây ở trên. Đó là cách nhìn của người đứng giữa đồng bằng, lưng tựa núi, mặt hướng ra biển.

"Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư": bản đồ đường đi

Đây là phần rất đáng chú ý cho người quan tâm tìm đường. Thay vì vẽ cả vùng, bộ bản đồ này vẽ các tuyến đường từ kinh thành đi bốn phía, theo dạng cuộn: lần lượt các trạm, sông, cầu, đò, chợ, chùa, núi dọc đường, kèm ghi chú khoảng cách hoặc thời gian đi. Nó giống một cuốn chỉ dẫn hành trình hơn là bản đồ tổng thể — rất gần với cách người xưa thực sự đi lại: biết trạm kế tiếp, không cần biết toạ độ. Danh mục Đường về quê có bài về đường thiên lý và trạm dịch.

Giá trị của bản đồ cổ

  • Lịch sử hành chính: cho thấy các đơn vị thừa tuyên, phủ, huyện qua các thời.
  • Địa danh học: lưu lại tên cũ của sông núi, làng xã, nhiều tên đã đổi.
  • Giao thông xưa: tuyến đường, bến đò, cửa biển.
  • Cương vực: phản ánh nhận thức của nhà nước về lãnh thổ qua các thời kỳ.
  • Thẩm mỹ: cách vẽ núi, sông, thành quách là một nét văn hoá thị giác riêng.

Đọc bản đồ cổ cho đúng

Khi đọc một bản đồ cổ, nên hỏi: bản này chép năm nào, ai chép, có phải bản gốc không? Có phần nào bổ sung đời sau không? Tên địa danh tương ứng với nơi nào ngày nay? Giới nghiên cứu lịch sử, Hán Nôm đã có nhiều công trình đối chiếu, nên khi tìm hiểu, hãy dựa vào các ấn phẩm có phiên âm, chú giải của các cơ quan nghiên cứu uy tín thay vì ảnh lan truyền trên mạng không rõ nguồn.

Tìm xem bản đồ cổ ở đâu

Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, Thư viện Quốc gia lưu giữ nhiều bản đồ cổ. Một số triển lãm chuyên đề về bản đồ và tư liệu lịch sử được tổ chức định kỳ ở các bảo tàng. Nhiều thư viện quốc tế cũng số hoá bản đồ cổ về Việt Nam, có thể xem trực tuyến.

Câu hỏi thường gặp

Hồng Đức bản đồ là gì?

Là tên gọi một tập bản đồ cổ Việt Nam gắn với thời Lê Thánh Tông, khi nhà vua ra lệnh các địa phương vẽ bản đồ năm 1469 và hoàn thành bản đồ cả nước năm 1490. Các bản còn lại đến nay là bản chép, bản tổng hợp về sau.

Bản đồ Hồng Đức còn bản gốc không?

Không. Bản gốc thế kỷ 15 không còn; những gì lưu giữ là các bản chép tay gộp nhiều tập bản đồ thuộc các thời kỳ khác nhau, có thể đã được bổ sung qua nhiều đời.

Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư là gì?

Là bộ bản đồ đường đi từ kinh thành ra bốn phía, thường gắn với Đỗ Bá cuối thế kỷ 17, vẽ lần lượt trạm, sông, cầu, đò, chợ dọc tuyến như một cuốn chỉ dẫn hành trình.

Bản đồ cổ Việt Nam khác bản đồ hiện đại thế nào?

Không có tỉ lệ thống nhất, núi vẽ nhìn nghiêng, sông biển vẽ bằng sóng nước, ghi chữ Hán, hướng không cố định và nhiều bản đặt núi ở trên, biển ở dưới.

Xem bản đồ cổ Việt Nam ở đâu?

Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, Thư viện Quốc gia, các triển lãm chuyên đề, và các bộ sưu tập số hoá của nhiều thư viện quốc tế.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183